Thứ Tư, 3 tháng 11, 2021

Di truyền tính trạng hấp thu N hữu hiệu của cây lúa

 Di truyền tính trạng hấp thu N hữu hiệu của cây lúa

Nguồn: Tahmina NazishMamoona ArshadSami Ullah JanAyesha JavaidMuhammad Hassaan KhanMuhammad Afzal NaeemMuhammad Baber & Mohsin Ali. 2021. Transporters and transcription factors gene families involved in improving nitrogen use efficiency (NUE) and assimilation in rice (Oryza sativa L.). Transgenic Research (2021) Review Published: 15 September 2021

 

Nitrogen (N) là đại dưỡng chất trong tăng trưởng thực vật. Lạm dụng dưỡng chất này sẽ là ô nhiễm môi trường; do đó, người ta cố gắng cải tiến giống cây trồng có tính trạng hiệu quả sử dụng đạm NUE (nitrogen use efficiency). Đó là tính cấp thiết cho nền nông nghiệp bền vững. Sự hấp thu N, chuyển vị, đồng hóa, và tái vận động (remobilization) là bốn tính chất quan trọng của chỉ số NUE trong cây trồng. Oryza sativa L. (lúa) là loài cây lương thực quan trọng nuôi sống hơn một nửa dân số quả địa cầu này, cải tiến năng suất lúalà mục tiêu chính của các nhà chọn giống. Những phân tử  N transporters, enzymes gắn liền với sự đồng hóa N, và nhiều phân tử TFs (transcription factors) có ảnh hưởng đến NUE cây lúa, cũng như năng suất lúa. Mặc dù nhiều nghiên cứu cải tiến về NUE, nhưng kiến thức về cơ chế điều tiết di truyền để khởi động NUE vần còn rất hạn chế. Bài tổng quan này rất quan trọng cung cấp cho chúng ta một sự hiểu biết rõ ràng là làm thế nào cây lúa phát hiện nguồn N trong đất, làm thế nào sự phát hiện ấy được giả mã di truyền biến thành phản ứng đáp lại rồi điều tiết tăng trưởng. Hơn nữa, những yếu tố phiên mã kiểm soát gen có liên qua đến N đã được thảo luận rất chi tiết. Đây là hiểu biết rất tốt giúp cho nhà nghiên cứu cải tiến năng suất lúa, giảm thiểu bón phân hóa học trên đồng ruộng.

 

Xem: https://link.springer.com/article/10.1007/s11248-021-00284-5

 

Gen kháng đạo ôn trong điều kiện bón N cao

 Gen kháng đạo ôn trong điều kiện bón N cao

Nguồn: Mathias FrontiniArnaud BoisnardJulien FrouinMalika OuikeneJean Benoit MorelElsa Ballini. 2021. Genome-wide association of rice response to blast fungus identifies loci for robust resistance under high nitrogen. BMC Plant Biol. Journal; 2021 Feb 18;21(1):99.    

 

Phân N (nitrogen) được biết là làm gia tăng sự nhiễm bệnh đạo ôn lúa, hiện tượng này có thuật ngữ khoa học là NIS (Nitrogen-Induced Susceptibility). Trong cây lúa, hiện tượng này được quan sát trên kết quả nhiễm bệnh đạo ôn do nấm Magnaporthe oryzae gây ra. Nghiên cứu di truyền trước đây khẳng định locus (NIS1) làm tăng cường tính nhiễm bệnh đạo ôn trong nghiệm thức bón phân N cao. Để xác định được di truyền của biến động tính nhiễm bệnh ấy sau khi bón phân, người ta tiến hành phân tích NIS trong điều kiện thí nghiệm nhà kính, sử dụng tập đoàn giống lúa bao gồm 139 dòng lúa loại hình japonica. Phân tích GWAS xác định được các loci có khả năng gắn liền với kiểu hình NIS bằng cách so sánh loci nhiễm trong điều kiện bón N cao và bón N thấp, một cách tiếp cận cho phép người ta phân lập được các loci được minh chứng rõ ràng trên các nghiệm thức xử lý N khác nhau, người ta còn sử dụng một chỉ số mới về NIS để xác định các loci có khả năng đóng góp vào tính co dãn rất linh hoạt về kết quả nhiễm bệnh trong các nghiệm thức xử lý N khác nhau. Ảnh hưởng NIS trên toàn cục được quan sát trong quần thể tập đoàn giống lúa ấy, với mật độ vết bệnh là 8%, xét theo giá trị trung bình, trong điều kiện bón N cao. Ba QTL mới, hơn hẳn gen NIS1, được phân lập. Một alen hiếm của locus RRobN1 trên nhiễm sắc thể số 6 cho thấy tính kháng mạnh mẽ của nó khi xử lý bón N cao và bón N thấp. Một alen thường xuyên có mặt tại locus NIS2 định vị trên nhiễm sắc thể 5, minh chứng cho kiểu hình nhiễm đạo ôn khi bón N cao. Cuối cùng, một alen của locus NIS3, trên nhiễm sắc thể 10, có “ảnh hưởng đệm” của sự gia tăng tính nhiễm bệnh theo liều lượng bón N cao dần, nhưng tăng ở mức độ chung, xét về tính nhiễm bệnh. Alen này hầu hết được cố định trong loại hình cây lúa japonica ôn đới, như một kết quả khẳng định bản chất di truyền, với một locus có trong sự thích nghi với stress do nhiệt độ lạnh. Kết quả này mở ra cho loại hình cây lúa japonica hay indica, trong tìm kiếm gen khởi đầu kiểm soát sự nhiễm bệnh đạo ôn khi bón phân N cao. Người ta còn chứng minh được rằng: tính hữu dụng của sự dự đoán về bản chất linh hoạt của những loci mới, phản ứng với nấm gây bệnh đạo ôn cây lúa, trên ruộng có bón N cao.

 

Xem: https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/33602120/

 

Di truyền tính chống chịu mặn cây lúa

Di truyền tính chống chịu mặn cây lúa

Nguồn: Rakesh Kumar SinghSuneetha Kota & Timothy J. Flowers. 2021.  Salt tolerance in rice: seedling and reproductive stage QTL mapping come of age. Theoretical and Applied Genetics November 2021, vol. 134: 3495–3533.

 

 

Chống chịu mặn ở giai đoạn sinh dục cây lúa là sự kiện cực trọng quyết định năng suất khi bị stress mặn. Rất ít nghiên cứu tính trạng ấy vì đánh giá kiểu hình hết sức phức tạp, nhưng công nghệ mới trong bài tổng quan này sẽ bổ sung những kiến thức cần thiết như vậy. Sáu mươi ba meta-QTLs, định vị ở những vùng quan trọng bậc nhất trong hệ gen cây lúa, đánh dấu mục tiêu gen chủ đích để tăng cường tính chống chịu mặn đã được tổng quan rất đầy đủ.

 

Cho dù cây lúa được xếp vào loài thực vật dễ nhiễm mặn, nhưng các giống lúa không chịu ảnh hưởng giống nhau về các thời kỳ tăng trưởng, chỉ nhạy cảm nhất ở giai đoạn mạ và giai đoạn lúa trổ (sinh dục). Tuy nhiên, có tương quan rất kém giữa mức độ nhiễm mặn của 3 giai đoạn trong vòng đời cây lúa, dẫn đến ảnh hưởng stress mặn cũng khác nhau, bởi những cơ chế hết sức đặc thù. Các gen chống chịu (QTLs) trong giai đoạn mạ và giai đoạn trổ bông cũng khác nhau. Mặc dù tính trạng chống chịu mặn ở giai đoạn sinh dục quan trọng hơn, vì nó trực tiếp ảnh hưởng đến năng suất hạt, nhưng có hơn 90% tài liệu khoa học được công bố đều tập trung cho kết quả chống chịu ở giai đoạn mạ. Chỉ có một ít nghiên cứu được thực hiện chỉ ra cơ sở di truyền tính trạng chống chịu mặn giai đoạn sinh dục, vì đánh giá kiểu hình này hết sức cồng kềnh và phức tạp. Theo tổng quan, người ta liệt kê danh mục các giống lúa được phóng thích có tính trạng chống chịu mặn, trở thành giống thương mại hóa, canh tác đại trà trên đất nhiễm mặn. Người ta tóm lược các phương pháp đánh giá kiểu hình. Tính trạng chống chịu mặn ngày càng được nâng cao, nhằm mục tiêu bền vững về năng suất lúa, người ta cố gắng tìm ra phương pháp hiệu quả nhất trong đánh giá kiểu hình chống chịu mặn ở giai đoạn sinh dục. Một danh sách bao gồm 935 QTLs điều khiển tính trạng chống chịu mặn cây lúa ở giai đoạn mạ và giai đoạn sinh dục. Người ta chỉ rõ những nhiễm sắc thể mang 63 meta-QTLs (quãng phân tử có độ tin cậy cao 95%). Điều này khẳng định được những vùng quan trọng nhất trong hệ gen cây lúa có QTL chống chịu mặn. Nghiên cứu sâu hơn những QTLs như vậy nên  gia tăng, để người ta hiểu biết tốt hơn về tính chống chịu mặn của cây lúa, rất cần thiết cho mục tiêu ứng dụng thành công "chọn giống nhờ chỉ thị phân tử".

 

Xem: https://link.springer.com/article/10.1007/s00122-021-03890-3

 

Hình 2: Vị trí trên nhiễm sắc thể chừa những QTLs điều khiển tính chống chịu mặn của cây lúa từ kết quả của những quần thể mapping với nhiều nền tảng di truyền đa dạng phân bố trên 12 chromosomes.

 


Siêu lúa japonica YJ114 kháng đạo ôn

 Siêu lúa japonica YJ114 kháng đạo ôn

Ting MaoMingdong ZhuShakeel AhmadGuoyou YeZhonghua ShengShikai HuGuiai JiaoLihong XieShaoqing TangXiangjin WeiPeisong HuGaoneng Shao. 2021. Superior japonica rice variety YJ144 with improved rice blast resistance, yield, and quality achieved using molecular design and multiple breeding strategies. Mol Breed. J. 2021;41(10):65.  

 

Giống lúa Yanfeng 47 (YF47) thuộc loại hình japonica được canh tác tại Trung Quốc trên diện tích gần 2 triệu hectares, 30 năm qua. Tuy nhiên, YF47 nhiễm nặng bệnh đạo ôn do nấm Magnaporthe oryzae gây ra. Theo kết quả nghiên cứu này, người ta phát triển thành công chỉ thị phân tử mới TPAP (tetra-primer ARMS-PCR) xác định các gen PitaPib, và Pid2, chúng điều khiển tính kháng bệnh đạo ôn với phổ kháng rộng. Tập đoàn giống bao gồm 91 loại hình japonica trong quỹ gen cây lúa có đặc điểm sinh thái tương đương với loại hình giống lúa YF47 được thanh lọc đạo ôn, giống Wuyunjing 27 (WYJ27) có alen Pita và Pib, giống P135 có alen Pid2. Bên cạnh đó, các alen tương ứng PitaPib, và Pid2 được du nhập vào giống YF47 sử dụng phương pháp hồi giao đơn, hồi giao hai chiều thuận nghịch, hồi giao có sự hỗ trợ của chỉ thị phân tử (MAS) và công nghệ nuôi cấy túi phấn. Những vật liệu di truyền này, mang một, hai hoặc ba alen có chức năng, được phát triển trong 3 năm, rồi so sánh với giống YF47, tất cả chúng đều biểu hiện tính kháng bệnh cải tiến thông qua chủng nấm bệnh tự nhiên. Dòng cải tiến (IL: improved lines) số 1 đến số 5 (đều mang alen PitaPib, và Pid2 ); chúng được đánh giá tiếm năng về năng suất, không phun thuốc diệt nấm, tất cả các dòng ngoại trừ IL-4 biểu hiện tính kháng bệnh tăng so với giống lúa YF47. Dòng IL-5, được đặt tên là Yanjing 144 (YJ144), năng suất tăng cao tại tỉnh Liaoning trong khảo nghiệm so sánh giống lúa và có phẩm chất hơn hẳn giống YF47. Công trình này cho thấy một chiến lược có dấu ấn phân tử trong chồng gen kháng (pyramiding) để nhanh chóng cải tiến tính kháng bệnh đạo ôn của giống lúa cao sản, đồng thời cải tiến phẩm chất gạo trong chiến lược cải tiến giống lúa đa mục tiêu cùng một lúc.

 

Xem: https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/34642568/

 


 

Viết tiếp câu chuyện lúa lai ở Việt Nam

 Viết tiếp câu chuyện lúa lai ở Việt Nam

Trần Xuân Định

Tổng thể 30 năm lúa lai vào và phát triển ở Việt Nam, vị trí, vai trò lúa lai hiện giờ ra sao, quan điểm về lúa lai trong tương lai gần ở Việt Nam.

 

Lúa lai vào Việt Nam lịch sử như thế nào, Báo Nông nghiệp Việt Nam đã có một seri bài rất lý thú và bổ ích, đó là những bài người thực, việc thực.

 

Bắt đầu từ những năm đầu của thập kỷ 90 thế kỷ trước, lúa lai thâm nhập vào Việt Nam chủ yếu bằng con đường phi chính thống như các bài báo đã nêu. Giai đoạn đó miền Bắc ở vụ xuân chủ yếu cấy bằng các giống lúa xuân dài ngày và trung ngày (M2, VN10, C70, C71...). Vụ mùa gieo cấy chủ yếu bằng các giống CR203, NN22, C70... Vùng thấp trũng vẫn còn Mộc Tuyền, Bao Thai, những giống quang cảm, rất dài ngày.

 

Lúa lai vào Việt Nam giai đoạn đấy chúng tôi tạm phân ra là lúa lai thế hệ thứ nhất. Như đã biết, sau khi có hội nghị Thành Đô, tức là quan hệ Việt - Trung đã được bình thường hóa, mọi giao lưu từ các cấp lãnh đạo cao cấp đến địa phương, và đoàn thể, nhân dân trở nên nhộn nhịp, đặc biệt giao lưu thương mại, hàng hóa Trung Quốc từ quần áo, đồ uống (bia Vạn Lực), đến đồ dùng gia đình, nhất là quạt điện (quạt MD, quạt trần...) rẻ bèo và đổ bộ ồ ạt vào thị trường khan hiếm của Việt Nam, sau này là xe máy nữa. Hạt giống lúa lai những năm giữa đến cuối của thập niên 90 cũng sôi động không kém hàng tiêu dùng. Đó là giai đoạn chúng ta nhập hàng chục ngàn tấn hạt giống lúa lai từ Trung Quốc, qua các cửa khẩu như Hà Khẩu (Lào Cai), Phò Chài (Lạng Sơn), Móng Cái (Quảng Ninh)… Đến vụ các công ty giống từ tỉnh, đến huyện, cả các đơn vị sự nghiệp nữa, cứ xin được quota là nhập, các cuộc thương thảo với doanh nghiệp giống của Trung Quốc về giá cả, số lượng được bàn thảo ngay trên biên giới. Khi đó người ta chỉ lao vào lúa lai, ít ai nghĩ đến lúa thuần, mà sau này lúa thuần từ Trung Quốc cũng làm nên chuyện.

 

Các thế hệ lúa lai

 

Thế hệ lúa lai đầu tiên vào lớn, vào rộng phải kể đến Bác ưu 64 (TG4) cho vụ mùa. Vụ xuân là Sán ưu 63, Sán ưu quế 99 (TG1 và TG5), Nhị ưu 63. Các tổ hợp được đặt là TG2 và TG3 do ưu thế lai thấp nên không ra rộng được ở Việt Nam. Những năm khởi đầu, diện tích lớn chủ yếu phát triển mạnh ở vụ mùa khắp các tỉnh ĐBSH, vài năm sau lúa ưu thế lai mới mở rộng hơn ở các vùng khác (Trung du miền núi phía Bắc, Bắc Trung bộ và phía Nam). Ban đầu, vụ đông xuân lúa lai vào ít vì giá giống (nhóm San ưu - TG1) cao, tập quán của nông dân lại chủ yếu mạ dược và HTX còn để quỹ đất làm mạ, khi mà đại trà phần lớn là nhóm dài ngày và trung ngày (M2, VN10, C70, vụ xuân 170-190 ngày gieo mạ dược, tỷ lệ nhóm này có vụ tới 95% cơ cấu), với tập quán đó, giống ngắn ngày khó chen chân. Thời kỳ đó công nghệ mạ nền và che phủ nilon gần như chưa có, nếu gieo mạ dược thưa, không che phủ mạ dễ chết rét và đó cũng là nguyên nhân lúa lai chưa vào được ở vụ xuân.

 

Giữa và cuối những năm 90, một thế hệ lúa lai mới được thử nghiệm và ra rộng cho đến bây giờ phải kể đến Nhị ưu 838, D.ưu 527, Phú ưu số 1, Khải phong, Cương ưu đa hệ... Vụ mùa có Bác ưu 903, Bác ưu 968... Nhiều giống mới có khi là những tổ hợp cùng mẹ khác cha hoặc cùng cha, khác mẹ với những giống thế hệ trước.

 

Đến giai đoạn này giống Bác ưu 64 sau khi vào rộng khoảng 4-5 vụ bắt đầu nhốn nháo về chất lượng. Có những lô giống nhập về tỷ lệ nảy mầm thấp (do đặc tính mỏng vỏ, hở vỏ trấu, dễ nảy mầm trên bông giai đoạn thu hoạch bị gặp mưa), rồi độ thuần không cao do lẫn tạp, do chất lượng dòng mẹ kém dẫn đến ưu thế lai giảm sút và năng suất không vượt trội như những lô giống ban đầu. Việc nhập khẩu để kinh doanh lúa lai, cũng có quá nhiều công ty tham gia và không ít đơn vị làm ăn chộp giật, không có hiểu biết về kỹ thuật lúa lai, không kiểm soát được chất lượng và bị đối tác lừa. Những năm đó vụ mùa bệnh bạc lá lại bùng phát mạnh, những vụ mưa lớn, gặp gió mạnh, nhất là sau bão tầm tháng 8-9, lá công năng bị đánh dập nát và vi khuẩn bạc lá xâm nhập, cả cánh đồng lúa lai Bác ưu 64 lá bạc trắng. Vào khoảng những năm cuối thập niên này lúa lai vụ mùa giảm nhanh chóng. Thế hệ giống lai mới Bác ưu 903 và Bác ưu 968 chống chịu bạc lá khá hơn nhưng cũng không thực sự lôi cuốn nông dân.

 

Giai đoạn đầu những năm 2000, công nghệ sản xuất lúa lai đã được khối cán bộ kỹ thuật nắm khá vững, và đã bắt đầu cải tiến không còn bê nguyên quy trình gieo thưa, bốc gốc cả bùn đất mà cấy nữa. Dòng A, R đã được các viện và công ty nhân giống khiến chúng ta chủ động hơn trong sản xuất hạt lai, thay vì phải nhập giống bố mẹ. Từ các vật liệu thu thập, hợp tác và cải tiến, Trung tâm Nghiên cứu và phát triển lúa lai (Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm) đã khảo nghiệm, đánh giá hàng chục tổ hợp với các dòng CMS đa dạng, từ nguồn Trung Quốc, IRRI, Ấn Độ. Các giống lai 3 dòng do Trung tâm lúa lai lai tạo đã được mở rộng như HYT57, HYT92, HYT100... Viện Sinh học, Viện Lúa của Đại học Nông nghiệp I cũng đã nghiên cứu và cải tiến thành công một số dòng TGMS, ít nhất có 2 giống lúa lai 2 dòng ra sản xuất rộng là Việt lai 20 và TH3-3, sau này ra một seri TH3-4, TH3-5... Hiện nay, Trung tâm Nghiên cứu và phát triển lúa lai (Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm), Viện Nghiên cứu Lúa - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã có trong tay một bộ giống với các tổ hợp ứng dụng công nghệ gen có ưu thế lai và kiểu hình tuyệt đẹp như HYT122, HYT124, HYT135 và HQ19, Lai thơm 6. Các giống ưu thế lai này có chất lượng cơm gạo khá ngon, hạt dài, mặt gạo đẹp phù hợp thị hiếu tiêu dùng.

Sự dịch chuyển mùa vụ và vùng trồng

Diện tích lúa lai thương phẩm bắt đầu chuyển dịch từ gieo cấy chính ở vụ mùa sang gieo cấy rộng hơn ở vụ xuân. Thế hệ giống lai thứ ba được tạo ra từ Trung Quốc vẫn chủ yếu là lúa lai 3 dòng như Thái xuyên 111, CNR36, Nghi hương, Thục hưng 6, Syn6, Bác ưu 903 có mang gen kháng bạc lá... Thế hệ này chất lượng cơm gạo và chống chịu sâu bệnh đã hơn hẳn các thế hệ trước do Trung Quốc tập trung nghiên cứu ứng dụng công nghệ Marker phân tử, đánh dấu gen để lai quay lui nhằm tạo ra các dòng mẹ hoặc bố có tính kháng cao với một số loại sâu bệnh quan trọng. Hầu hết các giống lúa ưu thế lai kháng được đạo ôn lá và đó cũng là nguyên do lúa lai được nông dân mở rộng ở vụ xuân. Giống chất lượng như Thái Xuyên 111 với năng suất trên dưới 10 tấn/ha thường thiếu nguồn cung và sốt giống.

 

 

Vụ mùa, vụ hè thu lúa lai cũng vẫn được gieo cấy nhưng diện tích đã giảm nhanh và chỉ các giống có tính chống chịu tốt với bệnh bạc lá mới được mở rộng. Sau đó Trung Quốc cũng cải tạo các giống thế hệ 2 như Bác ưu 903, Nhị ưu 838... bằng cách đưa các gen Xa (kháng bạc lá) vào dòng mẹ để có con lai chống chịu tốt hơn.

 

Sự chuyển dịch lúa lai cũng khá rõ theo vùng. Vùng ĐBSH, tỷ lệ diện tích lúa lai giảm từ chỗ vài chục % trong cơ cấu, có vụ trên 50% (Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng) giảm xuống chỉ còn dưới 10-15%. Diện tích gieo cấy lúa lai được mở rộng lên ở vùng núi phía Bắc và nhất là Bắc Trung bộ, Thanh Hóa và Nghệ An là 2 địa phương có diện tích lúa lai cao nhất nhiều năm gần đây. Vùng ĐBSCL lúa lai được mở rộng ở vùng lúa tôm thuộc bán đảo Cà Mau, các giống như B-TE1, một số giống của Pioneer. Lúa lai vào cùng với tập huấn cho nông dân, tập quán sạ với lượng hạt giống lớn 150-180kg/ha được thay đổi, vì dùng hạt lai gieo thưa, chỉ cần 50 kg/ha.

 

Giai đoạn này các công ty có vốn đầu tư nước ngoài (Syngenta, Bayer, Pioneer) cũng đã nhập lúa lai từ các công ty nhánh của họ để sản xuất, kinh doanh ở Việt Nam, các giống như Syn6, B-TE1, là những giống chất lượng tốt…

2021. GS Bùi Chí Bửu. Tổng quan về di truyền phôi mầm khổng lồ của hạt gạo

 2021. GS Bùi Chí Bửu. Tổng quan về di truyền phôi mầm khổng lồ của hạt gạo

Tải về

Tại sao phải cải tiến phôi mầm to?

 

Ở Hàn Quốc,  Chung et al. (2017) xác định được đặc điểm sinh hóa và sinh lý của gạo có phôi mầm khổng lồ,  từ giống lúa "Seonong 17" và "Keunnunjami". Seonong 17 và Keunnunjami có phôi mầm lớn hơn gạo thông thường. Phân tích proteomic bằng điện di hai chiều cho thấy sự khác biệt phổ biểu hiện protein của Seonong 17 và Keunnunjami.

 

Cao huyết áp (hypertension) là vấn đề của thế giới hiện đại. Hypertension do nhiều nguyên nhân: di truyền, môi trường, thức ăn, và lối sống. Có nhiều thuốc kiểm soát huyết áp như diuretics, β‐adrenoceptor blockers, angiotensin‐converting enzyme (ACE) inhibitors, calcium channel blockers, α‐adrenergic receptor blockers, vasodilators, và thuốc có bản chất centrally acting. Tuy nhiên, xử lý hypertension là một tiến trình lâu dài, không phải chỉ có liệu pháp thuốc mà còn phải kết hợp với thay đổi lối sống, ví dụ hạn chế rượu bia, hạn chế đồ ăn mặn và chất béo. Bên cạnh đó, người ta phát hiện γ‐Aminobutyric acid (GABA), là một trong những chất neurotransmitters chủ lực ức chế  hệ thần kinh trung ương, ví dụ như  vận chuyển neuron và kích thích hypotension. Nó hoạt động theo bản chất diuretic và an thần (tranquilizer). GABA có trong nhiều loài thực phẩm, trong rau, quả, trà xanh, sữa lên men, nước đậu nành, cà chua, gạo lứt nẩy mầm. GABA có nhiều trong gạo lứt đã góp phần kiểm soát cao huyết áp rất hiệu quả (Zhou et al. 2019). Họ xác định “Shangshida NO.5” một đột biến phôi mầm khổng lồ mang gen GE trong giống lúa “Chao2‐10”. Nó có tác dụng rất rõ ràng trong quản lý bệnh cao huyết áp (thí nghiệm trên chuột).

 

Lúa lai hai vụ của Trung Quốc lại đạt kỷ lục mới

 Lúa lai hai vụ của Trung Quốc lại đạt kỷ lục mới

Kim Long - NNVn, theo CGTN; THX

Tập đoàn Truyền thông Trung Quốc (CMG) vừa loan báo kỷ lục mới, một cánh đồng lúa lai hai vụ một năm ở Hồ Nam đã cho năng suất hơn 1,6 tấn/mu (khoảng 0,067 ha).

 

Thành quả này thuộc về Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Lúa lai Quốc gia Trung Quốc, hay còn gọi là Trung tâm Nghiên cứu Lúa Hồ Nam.

 

Theo đó, các chuyên gia đã công bố kết quả đánh giá trên một cánh đồng thử nghiệm, cho thấy năng suất lúa vụ muộn vừa qua đạt 936,1 kg/mu. Như vậy tổng năng suất của ruộng lúa lai này trong cả hai vụ năm nay đã đạt mốc 1.603,9 kg/mu (năng suất vụ sớm trước đó đạt 667,8 kg/mu).

 

Sản lượng lúa lai hai vụ năm  nay đã chính thức phá vỡ kỷ lục năng suất của năm ngoái là 1.530,7 kg/mu, trở thành loại lúa lai có năng suất cao nhất trên thế giới.

 

Lúa lai hai vụ một năm được phát triển bởi nhóm nghiên cứu do nhà nông học nổi tiếng Trung Quốc Viên Long Bình ở tỉnh Hồ Nam.

 

Chu kỳ gieo cấy lúa lai hai vụ bao gồm một vụ từ cuối tháng 5 đến cuối tháng 7 và vụ còn lại bắt đầu xuống giống từ cuối tháng 7 và thu hoạch vào tháng 11. Trong khi đó, lúa lai một vụ (vụ mùa) thường được gieo cấy vào cuối tháng 6 và thu hoạch vào cuối tháng 10.

 

Giới khoa học nông nghiệp cho biết, thông thường lúa một vụ có sản lượng cao hơn trên mỗi mu, nhưng tổng năng suất hàng năm của nó lại thấp hơn nhiều so với lúa hai vụ.

 

Kỷ lục về năng suất lúa lai hai vụ ở Trung Quốc thu được trong bối cảnh quốc gia trên 1,3 tỷ dân đang nỗ lực phát triển các giống lúa mới để tăng cường cung cấp lương thực.

 

Trước đó vào đầu tháng 9, thế hệ thứ hai của giống lúa siêu lai Chaoyouqianhao đã ghi nhận năng suất 1.107,5 kg/mu (tương đương 16,6 tấn/ha) được trồng thử nghiệm ở thị trấn Caoba, thành phố Mông Tự, tỉnh Vân Nam, phía tây nam Trung Quốc, đã đạt năng suất trung bình trên 1.000 kg/mu ở niên vụ thứ tư liên tiếp. Trong khi năng suất các giống lúa thường chỉ dao động từ 300 đến 600 kg/mu.

 

Vào cuối tháng 8, giống lúa lai khổng lồ của cha đẻ lúa lai vừa quá cố họ Viên cũng đã được trồng thử nghiệm ở làng Changhong thuộc thị trấn Shiwan, huyện Đại Túc, thành phố Trùng Khánh phía tây nam.

 

Theo đó, cây lúa lai khổng lồ này có chiều cao khoảng 2,2 m, gấp đôi cây lúa thường đã chứng tỏ có khả năng chống chịu với nắng nóng, dịch bệnh, ngập úng, đất mặn và đất phèn. Đặc biệt là cây cứng, chống đổ ngã tốt so với các giống cũ hay bị giảm năng suất và khó thu hoạch. Hiện giống lúa khổng lồ này vẫn đang được thử nghiệm trên diện rộng hơn và có nhiều tiềm năng sử dụng cho mục đích thương mại ở nhiều tỉnh thành của Trung Quốc với sản lượng ước tính sẽ đạt ít nhất 800 kg/mu.

 

Luo Zhiqiang, nhà nông học phụ trách quá trình thử nghiệm các giống lúa mới tại chi nhánh Trùng Khánh của Công ty lúa lai quốc gia Trung Quốc cho biết: Giống lúa khổng lồ cũng sẽ được thử nghiệm ở các độ cao khác nhau và các điều kiện thời tiết khác nhau để chuẩn bị cho việc trồng và sản xuất đại trà. Ngoài ra vì giống lúa khổng lồ này có thể chống chịu được độ sâu nên ruộng lúa cũng có thể được sử dụng kết hợp làm ao nuôi cá, tôm và cua cùng một lúc.

 

Vào tháng 11/2020, ông Li Xinqi, chuyên gia tại Trung tâm Nghiên cứu Lúa lai Hồ Nam, chủ nhân của giống lúa lai thế hệ 3 đạt năng suất 22,5 tấn/ha cho biết: “Năng suất cao và khả năng chống chịu bệnh tật, chịu rét và chống đổ ngã là những ưu điểm của lúa lai thế hệ thứ ba so với hai thế hệ trước”.  

 

Năng suất lúa lai cao đạt được trong điều kiện không thuận lợi như nền nhiệt độ thấp và thời gian hấp thu ánh sáng mặt trời ngắn hơn khi chỉ ghi nhận được 43,85 giờ nắng hiệu quả, so với con số 187,8 của năm 2019.

 

Trung Quốc hiện nuôi sống khoảng 20% ​​dân số thế giới mặc dù chỉ có ít hơn 9% diện tích đất canh tác trên thế giới.

 

Hiện các thế hệ nghiên cứu lúa lai hậu duệ của cha đẻ lúa lai Viên Long Bình vẫn đang tiếp tục nghiên cứu các tổ hợp lúa lai thế hệ mới và tiến hành các nghiên cứu để đơn giản hóa việc canh tác lúa, nhằm đạt năng suất cao mà ít sử dụng phân bón nhằm thúc đẩy sản xuất lúa gạo của Trung Quốc phát triển xanh hơn và bền vững hơn với chất lượng và năng suất cao hơn.