Thứ Bảy, 2 tháng 3, 2024

Xác định gen tiềm năng chống chịu mặn trên cây lúa bằng công nghệ giải trình tự gen thế hệ mới

 Xác định gen tiềm năng chống chịu mặn trên cây lúa bằng công nghệ giải trình tự gen thế hệ mới

Đất nhiễm mặn là một vấn đề nghiêm trọng ảnh hưởng tới hơn 1,6 triệu ha đất trồng trọt ở các vùng đồng bằng sông Cửu Long và vùng duyên hải miền Trung ở Việt Nam, với độ mặn từ 0,4 đến 1,0% và không ngừng tăng lên. Với tiềm năng kiểm soát mức độ biểu hiện gen trong cây ở giai đoạn sau phiên mã và những tiến bộ trong công nghệ giải trình tự gen thế hệ mới (NGS), miRNA mở ra một con đường tiềm năng nghiên cứu tìm hiểu vai trò của các miRNA trong cơ chế chống chịu mặn làm cơ sở cho việc nghiên cứu nâng cao khả năng chịu mặn trên cây lúa ở Việt Nam.

Giải trình tự miRNA là một ứng dụng giải trình tự mới, có độ nhạy cao và yêu cầu lượng mẫu ít. Ứng dụng này cho phép định lượng chính xác số lượng bản phiên mã để lập sơ đồ mức độ biểu hiện của toàn bộ miRNA, phát hiện các miRNA mới có khả năng kiểm soát mức độ biểu hiện của các gen sinh tổng hợp các protein có lợi cũng như đánh giá mối tương quan giữa mức độ biểu hiện các miRNA và các gen liên quan để tìm ra các miRNA có tiềm năng tăng sức chống chịu của cây trồng. Những ưu điểm trên cho thấy rằng công nghệ giải trình tự miRNA là công cụ quan trọng trong nghiên cứu hệ gen phiên mã trong cây trồng.

Trong nghiên cứu này, các nhà khoa học sử dụng công nghệ giải trình tự gen thế hệ mới để đưa ra đánh giá toàn diện về mức độ biểu hiện của miRNA trong cây lúa chuẩn kháng mặn Đốc Phụng (ĐP) và cây lúa chuẩn nhiễm mặn IR28 dưới tác động của muối. Mẫu thân và rễ của cây lúa chuẩn kháng mặn và chuẩn nhiễm mặn trồng trong điệu kiện bình thường và nhiễm mặn 150 mM NaCl được sử dụng làm nguồn vật liệu để lập thư viện miRNA và giải trình tự toàn bộ miRNA bằng nền tảng Illumina NexSeq. Kết quả giải trình tự miRNA giúp xác định được một nhóm các miRNA có tiềm năng và các gen đích kiểm soát tình trạng chịu mặn từ giống lúa bản địa của Việt Nam qua đó cung cấp nguồn thông tin di truyền hữu ích phục vụ cho các nghiên cứu phát triển giống lúa mới có khả năng chống chịu mặn cao, phù hợp với môi trường và điều kiện nuôi trồng ở Việt Nam.

Hình ảnh cây lúa chuẩn kháng mặn Đốc Phụng (ĐP) và cây lúa chuẩn nhiễm mặn IR28 trong nghiên cứu.

Trong khuôn khổ của đề tài, các nhà khoa học đã đánh giá khả năng chịu mặn của hai giống lúa ở giai đoạn mạ trong điều kiện nhiễm mặn 150 mM NaCl trong 05 ngày liên tiếp. Kết quả đánh giá các đặc điểm sinh lý và sinh hóa xác định rằng giống lúa Đốc Phụng sử dụng trong nghiên cứu là giống chuẩn kháng và giống IR28 là giống chuẩn nhiễm. Tiếp đó, nhóm nghiên cứu tiến hành giải trình tự miRNA từ thân và rễ của hai giống lúa. Kết quả thu được 08 bộ dữ liệu (bao gồm ĐP-ĐC-T, ĐP-ĐC-R, ĐP-NaCl-T, ĐP-NaCl-R, IR28-ĐC-T, IR28-ĐC-R, IR28-NaCl-T và IR28-NaCl-R) có chất lượng tốt. Chỉ số chất lượng giải trình tự toàn bộ miRNA: Q20 > 90% và Q30 > 80%.

Qua quá trình sàng lọc và phân tích tin sinh, TS. Nguyễn Đức Quân và cộng sự đã xác định 04 miRNA tiềm năng tham gia vào quá trình chịu mặn trên cây lúa Đốc Phụng (bao gồm miR164d, miR168a, miR171h và miR398a). Đây là những miRNA tiềm năng tham gia vào quá trình thích ứng mặn trên cây lúa, thông qua việc can thiệp vào quá trình kiểm soát biểu hiện các gen đích là SPL (Squamosa Promoter-binding protein-Like) tham gia điều hóa quá trình sinh tổng hợp anthocyanin có tác dụng chất chống lại các gốc oxy hóa tự do, yếu tố phiên mã NAC21/22, protein kiểm soát biểu hiện gen và tăng trưởng AGO1, và SCL6-II tham gia kiểm soát quá trình phát triển của hệ rễ trong cây lúa Đốc Phụng bị nhiễm mặn.

Các nhà khoa học đã đánh giá độ chính xác của 08 bộ dữ liệu giải trình tự miRNA bằng phương pháp RT-qPCR. Phân tích kết quả RT-qPCR của 04 miRNA (miR164d, miR169i, miR172d và miR398a) cho thấy biểu hiện của chúng có độ tương đồng cao với kết quả giải trình tự miRNA trên 02 giống lúa Đốc Phụng và IR28 trong điều kiện nhiễm mặn. Kết quả RT-qPCR cũng cho thấy những miRNA có tiềm năng kiểm soát biểu hiện các gen đích của chúng là NAC21/22, NTYF, AP2/ERF và CSD2. Điều đó chứng minh rằng bộ dữ liệu giải trình tự miRNA thu được là chuẩn xác và có độ tin cậy cao.

Qua nghiên cứu, nhóm đã làm sáng tỏ hơn cơ chế chống chịu mặn của cây lúa nói chung và trên giống lúa chuẩn kháng Đốc Phụng ở cấp độ phân tử nói riêng. Bên cạnh đó, các bộ dữ liệu miRNA cung cấp một công cụ tiềm năng hỗ trợ rút ngắn thời gian nghiên cứu và phát triển các giống lúa chịu mặn mới có khả năng chống chịu mặn cao. Kết quả nghiên cứu được đăng trong 02 bài báo thuộc danh mục SCIE, 01 bài báo trong nước và được Hội đồng nghiệm thu cấp Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam xếp loại B.

Với những thành công trên, các nhà khoa học mong muốn tiếp tục nghiên cứu, đánh giá chuyên sâu về mức độ biểu hiện và chức năng các miRNA trong việc nâng cao khả năng chịu mặn trên cây lúa bằng các phương pháp in vitro để hoàn thiện kết quả và sớm thúc đẩy nghiên cứu và phát triển các giống lúa chịu mặn mới.

Chu Thị Ngân - VAST

Di truyền tính trạng chống chịu mặn từ loài lúa hoang

 Di truyền tính trạng chống chịu mặn từ loài lúa hoang

Nguồn: Guntupalli PadmavathiUmakanth BangaleK Nagendra RaoDivya BalakrishnanMelekote Nagabhushan ArunRakesh Kumar SinghRaman Meenakshi Sundaram. 2024. Progress and prospects in harnessing wild relatives for genetic enhancement of salt tolerance in rice. Front Plant Sci.; 2024 Jan 31: 14:1253726. doi: 10.3389/fpls.2023.1253726. 

 

Stress mặn là stress phi sinh học thứ hai có tác động và hạn chế sản lượng thóc toàn cầu. Sự tiến bộ di truyền về tính chống chịu mặn cây lúa là triển vọng và là cách tiếp cận kinh tế nhất đảm bảo năng suất lúa trong vùng bị nhiễm mặn xảy ra. Cải tiến giống lúa chống chịu mặn là thách thức lớn bởi vì sự phức tạp về di truyền  khi cây lúa phản ứng với mặn, vì nó bị điều khiển bởi nhiều gen thứ yếu có hệ số di truyền thấp (low heritability) và tương tác G × E cao. Rất nhiều yếu tố sinh lý và sinh hóa phức tạp can thiệp vào cơ chế này. Việc chọn lọc tiêu tốn nhiều công sức cũng như những cố gắng trong chọn tạo giống nhằm cải tiến năng suất hạt trong kỷ nguyên “cách mạng xanh” vô tình dẫn đến sự biến mất dần các loci điều khiển tính chống chịu mặn và có một sự suy giảm đáng kể biến dị di truyền trong các giống lúa trồng hiện nay. Việc sử dụng có giới hạn nguồn di truyền và cơ sở di truyền quá hẹp như vậy của các giống lúa cải tiến đã và đang dẫn đến một nền tảng nghèo nàn phản ứng với chống chịu mặn trong nhiều giống lúa mới.

 

Loài hoang dại (wild species) là nguồn tài nguyên di truyền tuyệt vời làm mở rộng cơ sở di truyền của giống lúa bản địa được thuần hóa. Khai thác những gen mới ấy của họ hàng lúa hoang chưc được sử dụng đúng mức để phục hồi các loci chống chịu mặn bị mất đi trong tiến trình thuần hóa; có thể mang lại hiệu quả chọn lọc di truyền có ý nghĩa trong giống lúa trồng. Loài hoang dại của cây lúa, Oryza rufipogon và Oryza nivara, đã được khai thác trong quá trình phát triển một vài giống lúa cải tiến như Jarava và Chinsura Nona 2. Bên cạnh đó, việc tiếp cận ngày càng tăng đối với thông tin giải trình tự và kiến thức cũng tăng thêm về genome học của tính chống chịu mặn từ loài hoang dại gần gủi, chúng cung cấp cơ hội để khai thác hiệu quả mẫu giống lúa hoang trong các chương trình lai tạo giống mới, trong khi đó, người ta phải khắc phục những rào cản do tính chất không tương thích khi lai và những rào cản vởi liên kết với tính trạng xâu (linkage drag) khi lai lúa trồng với lúa hoang. Nguồn vật liệu mang tên “pre-breeding” là một đại lộ cho phép vật liệu xây dựng sẵn sàng phục vụ chương trình cải tiến giống mới. Mội nỗ lực phải tập trung vào thu thập nguồn vật liệu có hệ thống, đánh giá, định tính và giải mã cơ chế chống chịu mặn của dòng lúa du nhập gen đích từ lúa hoang, rồi khai thác các các loci mới đề cải tiến chống chịu mặncủa giống lúa. Tổng quan này tóm lược khả năng của loài lúa hoang Oryza nhằm tăng cường tính chống chịu mặn, theo dõi tiến bộ công việc chọn giống và đưa ra những luận điểm nghiên cứu trong tương lai.

 

Xem https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/38371332/

 

Nguồn gen của cây lúa từ loài lúa hoang dại và loài thực vật có quan hệ gần với lúa.

Thứ Sáu, 1 tháng 3, 2024

Hạt gạo tích hợp tế bào động vật: Con đường tắt, dẫn đến lương thực bền vững

 Hạt gạo tích hợp tế bào động vật: Con đường tắt, dẫn đến lương thực bền vững

Nguồn: Sohyeon ParkMilae LeeSungwon JungHyun LeeBumgyu ChoiMoonhyun ChoiJeong Min LeeKi Hyun YooDongoh HanSeung Tae LeeWon-Gun KohGeul BangHeeyoun HwangSangmin LeeJinkee Hong. 2024. Rice grains integrated with animal cells: A shortcut to a sustainable food system. Cell; February 14 2024; https://doi.org/10.1016/j.matt.2024.01.015

 

Sự phát triển lương thực cho tương lai là một nhiệm vụ tất yếu để nhân loại ổn định. Không may là, những ứng cử viên lương thực tương lai được báo cáo cho tới bây giờ có quá nhiều hạn chế theo ý nghĩa thương mại hóa, ví dụ mất cân đối dinh dưỡng, mùi vị lạ lẫm, và khả năng định hình kém. Theo đó, nghiên cứu đã đề xuất việc phát triển một thành phần thực phẩm mới trong đó hạt gạo, có phủ lớp nano, và những tế bào động vật được tích hợp vào. Những đặc điểm của thực phẩm này và giá trị của thịt trên cơ sở gạo được thảo luận, người ta đáng giá tiềm năng của chúng như những thành phần thực phẩm bền vững. Kết quả này  cung cấp những ý tưởng khả thi để sáng tạo những loại hình khác nhau của thực phẩm tương lai có tính chất “hybrid”. Trong tương lai, hệ thống tự cung của thực phẩm hybrid trên cơ sở hạt như vậy có thể đảm bảo cứu trợ lương thực ở các nước kém phát triển, khi có chiến tranh, và khi ở xa nơi cung cấp thực phẩm.

 

Một chiến lược phát triển thực phẩm hybrid giàu dinh dưỡng bằng hạt gạo được hỗ trợ bởi công nghệ phủ hạt “nanocoating” cộng với tế bào của bò sẽ cho ra hệ thống thực phẩm bền vững đã được ghi nhận. Hạt gạo là nguyên liệu thực phẩm an toàn với tỷ lệ dị ứng thấp và có phổ dinh dưỡng rộng, cấu trúc thích hợp cho nuôi cấy tế bào 3D. Một lớp phủ ăn được là gelatin của cá cộng các enzymes thực phẩm mang lại mối quan hệ cao giữa hạt gạo và tế bào, cải tiến sự bền của kiến trúc hạt gạo đối với khả năng gia tăng của tế bào. Khả năng của hạt gạo như khung mang tế bào (cell scaffolds) được minh chứng bởi nghiên cứu tương tác giữa màng phủ, hạt, và tế bào. Hạt gạo này được chuyển thành thực phẩm hybrid với dinh dưỡng của động vật thông qua những tế bào của bò có tổ chức tinh vi. Người ta thảo luận những đặc điểm của thực phẩm này và giá trị sản xuất của “thịt gạo” để đánh giá tiềm năng của nó như một thực phẩm bền vững đảm bảo cho tình trạng khủng hoảng lương thực nếu có và sự ấm lên toàn cầu.

 

Xem https://www.cell.com/matter/fulltext/S2590-2385(24)00016-X

 

Một loại nguyên liệu thực phẩm mới có thể vượt qua cuộc khủng hoảng lương thực của nhân loại đã được tạo ra

Hệ thống bảo vệ cây lúa kháng rầy nâu bởi phân tử circRNA

 Hệ thống bảo vệ cây lúa kháng rầy nâu bởi phân tử circRNA

 Nguồn: Hou-Hong YangYa-Xuan WangJing XiaoYi-Fan JiaFang LiuWei-Xia WangQi WeiFeng-Xiang LaiQiang FuPin-Jun Wan. 2024. Defense Regulatory Network Associated with circRNA in Rice in Response to Brown Planthopper Infestation. Plants (Basel); 2024 Jan 26; 13(3):373. doi: 10.3390/plants13030373.

 

Rầy nâu (BPH), Nilaparvata lugens (Stål), là sâu hại lúa nghiêm trọng, đứng đầu trong danh sách sâu bệnh hại trong những năm gần đây. Tính kháng rầy nâu của cây chủ là chiến lược có hiệu quả nhất trong quản lý BPH. Tuy nhiên, tính kháng BPH của các giống lúa không chịu nổi sự xuất hiện của những quần thể rầy nâu có độc tính khác biệt. Phân tử “circular RNAs” (circRNAs) đóng vai trò vô cùng cần thiết trong điều hòa tương tác giữa cây lúa với môi trường; tuy nhiên, những cơ chế như vậy về chức năng kháng của côn trùng vẫn chưa được khai thác bao nhiêu. Nghiên cứu đã tiến hành một phân tích có tính chất “genome-wide” thông qua chạy trình tự kỹ thuật cao để khai thác phản ứng của phân tử “rice circRNAs” khi bị rầy nâu xâm nhiễm. Có tất cả 186 circRNAs trong giống lúa IR56 với hai nhóm độc tính khác nhau: IR-IR56-BPH (liên quan đến lúa IR bị xâm nhiễm bởi IR56-BPH) và IR-TN1-BPH, có trong nhóm đối chứng (IR-CK) không bị xâm nhiễm bởi rầy nâu. Trong số đó, 39 phân tử circRNAs điều tiết kiểu “up”, 43 phân tử circRNAs điều tiết kiểu “down” khi người ta so sánh giữa IR-IR56-BPH  IR-CK. Hơn nữa, khi so sánh với IR-CK, có 42 phân tử circRNAs biểu hiện điều tiết kiểu “up”  trong IR-TN1-BPH, bên cạnh, có 42 phân tử circRNAs điều tiết kiểu “down”. Phân tích với phần mềm Gene Ontology and Kyoto Encyclopedia of Genes and Genomes enrichment cho thấy những mục tiêu của phân tử differentially expressed circRNAs dường như rất phong phú trong nhiều tiến trình sinh học liên kết rất gần với  phản ứng khi bị rầy nâu xâm nhiễm. Hơn nữa, kết quả đánh giá 20 phân tử circRNAs chọn ngẫu nhiên có những mức độ biểu hiện đa dạng tương ứng. Bên cạnh đó, người ta minh chứng tác động của điều tiết bởi phân tử circRNAs trên phân tử miRNAs  mRNAs. Kết quả cho phép chúng ta thiết kế mô phỏng khái niệm là phân tử circRNA được gắn kết với  hệ thống bảo vệ có điều tiết trong cây lúa, nó cho phép thực hiện nhờ sự trung gian của gen từ bố mẹ và cạnh tranh mạng lưới RNA nội sinh (ceRNA). Mô phỏng này góp phần giúp người ta hiểu được nhiều tiến trình thâm cứu trong tương tác giữa cây lúa và rầy nâu.

 

Xem https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/38337906/

Di truyền tính chống chịu khô hạn của cây lúa

 Di truyền tính chống chịu khô hạn của cây lúa

Nguồn: Zilong GuoShouchuang WangFeng ZhangDenghao XiangJun YangDong LiBaowei BaiMingqiu DaiJie LuoLizhong Xiong. 2024. Common and specific genetic basis of metabolite-mediated drought responses in rice. Stress Biol.; 2024 Jan 23; 4(1):6. doi: 10.1007/s44154-024-00150-4.

 

Cây điều phối phản ứng với với khô hạn ở mức độ biến dưỡng, nhưng cơ chế di truyền về cách điều phối ấy vẫn còn mù mờ trong cây lúa. Nghiên cứu tiến hành với 233 DRMs (drought-responsive metabolites) chất biến dưỡng có liên quan đến phản ứng khô hạn được định tính trong tập đoàn giống lúa khá lớn với 510 mẫu giống đa dạng, xét nghiệm khô hạn ở giai đoạn sinh dục. Biến thiên rất lớn các biến dưỡng khi cây lúa phản ứng với khô hạn được tìm thấy, và có rất ít tương quan tính theo mức độ biến dưỡng giữa nghiệm thức khô hạn và bình thường. Đáng chú ý là, hầu hết những DRMs này có thể dự đoán được tính kháng hạn với độ chính xác cao. Áp dụng GWAS với 2522 tín hiệu kết hợp có ý nghĩa đối với 233 chất biến dưỡng DRMs, có 98% (2471/2522) tín hiệu mang tính chất đồng vị trí với nhiều loci gắn kết với kiểu hình chống chịu hạn trong cùng một quần thể cây lúa hoặc những QTLs trên bản đồ di truyền liên kết tính trta5ng kháng hạn trong nhiều quần thể khác nhau. Có tổng cộng 10 gen ứng cử viên được phân lập đối với 9 chất biến dưỡng DRMs, bảy gen gắn với cis-eQTLs trong nghiệm thức xử lý khô hạn. Trên cơ sở GWAS có tính so sánh của những DRMs chung nhất của lúa và bắp, đặc trưng cho cây trồng có tưới và cây trồng cạn, người ta xác định được ba cặp gen đồng dạng gắn với ba chất biến dưỡng DRMs giữa hai loài cây trồng nói trên. Trong những gen đồng dạng ấy, một gen mã hóa transferase  có nhiệm vụ tạo biến thể các biến dưỡng của nhóm N-feruloylputrescine được người ta xác địnhlà tăng cường tính chịu hạn của cây lúa. Kết quả này không những xác định kiến trúc di truyền của phản ứng biến dưỡng với stress khô hạn và còn là nguồn dữ liệu biến dưỡng chỉ ra những phản ứng biến dưỡng với khô hạn theo kiểu chung nhất và theo kiểu chuyên biệt của nhiều cây trồng khác nhau different crops.

 

Xem https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/38253937/

 

Dòng hóa gen chitinase 1 của cây bắp; biểu hiện gen này trong cây lúa giúp kháng được sự xâm nhiễm của nấm Pyricularia oryzae

Dòng hóa gen chitinase 1 của cây bắp; biểu hiện gen này trong cây lúa giúp kháng được sự xâm nhiễm của nấm Pyricularia oryzae

Nguồn: Sadaf AnwaarNyla Jabeen,  Khawaja Shafique Ahmad, Supervision, Saima ShafiqueSamra IrumHammad IsmailSiffat Ullah KhanAteeq TahirNasir Mehmood, and Mark L. Gleason. 2024. Cloning of maize chitinase 1 gene and its expression in genetically transformed rice to confer resistance against rice blast caused by Pyricularia oryzaePlosOne 2024; 19(1): e0291939. Published online 2024 Jan 16. doi: 10.1371/journal.pone.0291939

 

Hình: Vùng T-DNA của plasmid pSDF3.

 

Pathogens là nấm, một trong những nguyên nhân chính gây srtress sinh học cho cây lúa (Oryza sativa L.), làm thiệt hại đáng kể đến năng suất lúa hàng năm trên thế giới. Cải tiến giống lúa kháng bệnh là con đường chủ lực trong quản lý bệnh trên lúa, nhưng con đường chọn giống truyền thống sẽ mất nhiều thời gian để có được giống thương mại. Trái lại, việc phát triển giống lúa kháng bệnh bằng thao tác trên hệ gen tại gen đích là tiềm năng to lớn để phát triển giống cao sản kháng bệnh một cách nhanh chóng. Các tác giả tiến hành dòng hóa lần đầu tiên gen chitinase 1 của cây bắp rồi chèn gen này vào cây lúa - giống Basmati 385 thông qua chuyển nạp gen gián tiếp nhờ vi khuẩn Agrobacterium để có giống lúa kháng  bệnh đạo ôn do nấm Pyricularia oryzae. Nhiều yếu tố cho thao tác chuyển nạp này đã được tối ưu hóa. Mô sẹo 4 tuần tuổi được xử lý xâm nhiễm 15 phút với vi khuẩn Agrobacterium trước khi “colonization” trên môi trường nuối cây có tính chất “co-cultivation”, đây là điều kiện phù hợp nhất. Bên cạnh đó, cho thêm 300 μM acetosyringone trên môi trường nuôi cấy, 2 ngày, thu được tần suất chuyển nạp qua callus hiệu quả nhất. Dòng lúa transgenic được phân tích bằng kỹ thuật phân tử và xem xét chức năng gen. Tích hợp thành công gen đích vào cây lúa được xác định bằng xét nghiệm PCR với primer sets đặc hiệu với chitinase và gen hpt. Thực hiện real-time PCR  với những transformants cho thấy có một sự kết hợp cực mạnh giữa biểu hiện transgene  và tính kháng bệnh đạo ôn. Minh chứng  chức năng gen tích hợp  này được hoàn thiện nhờ xét nhiệp bioassay trên lá lúa, kết quả cho thấy hiệu quả của tính kháng bệnh qua chitinase trong tất cả dòng lúa Basmati 385 chuyển gen với điểm kháng bệnh do nấm Poryzae khá biến động. Kết luận: biểu hiện mạnh mẽ gen chitinase 1 của cây bắp được chuyển nạp vào giống lúa Basmati 385 đã cải tiến được tính kháng bệnh đạo ôn. Kết quả này bổ sung những phương án mới cho nguồn vật liệu bố mẹ kháng  bệnh trong lai tạo giống mới. Gen chitinase 1 của bắp được minh chứng là gen tiềm năng để cải tiến di truyền giống lúa kháng bệnh trong tương lai.

 

Hình: Bản đồ chi tiết của vector pDW3586.

 

Xem https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC10791007/

Lúa gạo Việt Nam rạng danh toàn thế giới

Lúa gạo Việt Nam rạng danh toàn thế giới

Ngành lúa gạo Việt Nam đã khép lại năm 2023 huy hoàng với nhiều dấu ấn rực rỡ, lập nhiều kỷ lục về sản lượng, khối lượng và kim ngạch xuất khẩu… Cùng với đó là nhiều sự kiện quan trọng, như thành lập Hiệp hội ngành hàng lúa gạo; Tổ chức thành công Festival lúa gạo quốc tế; Gạo Việt Nam được vinh danh gạo ngon nhất thế giới…

 

Theo nhận định của nhiều chuyên gia, nhà quản lý, doanh nghiệp, thời gian tới thị trường gạo trong nước và quốc tế sẽ tiếp tục sôi động, mặt bằng giá gạo xuất khẩu vẫn ở mức cao khi thế giới gia tăng nhập khẩu gạo. Đây là cơ hội rất lớn cho ngành lúa gạo Việt Nam.

 

LẬP NHỮNG KỶ LỤC PHI THƯỜNG

 

Bức tranh ngành lúa gạo Việt Nam năm 2023 nhiều điểm sáng, sự kiện để lại dấu ấn đáng tự hào.

 

Dấu ấn đầu tiên: Kỷ lục về xuất khẩu gạo trong năm 2023 khi khối lượng và giá trị đều đạt đỉnh, 8,2 triệu tấn và 4,78 tỷ USD, tăng tương ứng 15,4% và 36,6% so với năm 2022. Thị trường số 1 của Việt Nam tiếp tục là Philippines, hiện chiếm khoảng 35% thị phần gạo Việt Nam xuất khẩu. Trong năm 2023, lượng gạo xuất khẩu sang quốc gia này đạt 2,86 triệu tấn, tương ứng 1,54 tỷ USD. Xếp sau là Indonesia, Trung Quốc và các quốc gia châu Phi.

 

Description: Lúa gạo Việt Nam rạng danh toàn thế giới  - Ảnh 1

 

Dấu ấn thứ hai: Giá gạo xuất khẩu bình quân của Việt Nam vượt qua các đối thủ để vươn lên dẫn đầu thế giới. Theo thông tin từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VF), giá gạo xuất khẩu tăng cao đột biến trong năm 2023. Trong tháng 11/2023, giá gạo xuất khẩu 5% tấm của Việt Nam đạt mức 653 USD/tấn, cao hơn gần 93 USD so với mặt hàng cùng loại của Thái Lan (với giá 560 USD/tấn), cao hơn Pakistan là 90 USD/tấn (với giá 563 USD/tấn). Với mặt hàng gạo 25% tấm, gạo Việt Nam bán được giá 638 USD/tấn, cao hơn 118 USD/tấn so với sản phẩm cùng loại của Thái Lan (520 USD/tấn); cao hơn Pakistan 150 USD/tấn (488 USD/tấn).

 

"Gạo Việt Nam được vinh danh là gạo ngon nhất thế giới thêm một lần nữa khẳng định chất lượng cũng như uy tín của gạo Việt trên thị trường quốc tế, chắc chắn sẽ có tác động tích cực đến hình ảnh gạo Việt cũng như việc xuất khẩu gạo của Việt Nam, đặc biệt gạo chất lượng cao".

 

Ông Nguyễn Như Cường, Cục trưởng Cục Trồng trọt.

 

Dấu ấn thứ ba: Sản lượng gạo thu hoạch lập kỷ lục mới, qua đó vừa đảm bảo nhu cầu trong nước, vừa đáp ứng lượng gạo xuất khẩu kỷ lục lần đầu vượt qua 8 triệu tấn. Một trong những điểm nổi bật là tỷ trọng các giống lúa thơm, lúa đặc sản hiện chiếm phần lớn. Cụ thể, giống Đài Thơm 8/OM18 chiếm 41%, giống OM5451 chiếm khoảng 19%, giống ST (21/24/25) chiếm khoảng 9%.

 

Dấu ấn thứ tư: Gạo Việt Nam được vinh danh là gạo ngon nhất thế giới tại Hội nghị lúa gạo quốc tế 2023 tổ chức tại Cebu - Philippines từ ngày 28 đến 30/11/2023. 

 

Dấu ấn thứ năm: Lần đầu tiên Festival quốc tế ngành hàng lúa gạo Việt Nam được tổ chức (5 lần Festival lúa gạo trước đây chỉ tổ chức quy mô trong nước), trong bối cảnh Việt Nam đang hướng tới trở thành quốc gia tiên phong trong sản xuất lúa chất lượng, giảm phát thải, phát triển theo hướng xanh và bền vững gắn với Đề án “Phát triển bền vững một triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030”. Festival đã được tổ chức tại Hậu Giang từ ngày 11-14/12/2023.

 

Dấu ấn thứ sáu: Lần đầu tiên Việt Nam có người giữ vị trí lãnh đạo cao nhất của IRRI. Năm 2023, TS. Cao Đức Phát, nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, nguyên Phó trưởng Ban Kinh tế Trung ương, đã được toàn thể Viện Nghiên cứu lúa gạo quốc tế (IRRI) tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản trị Viện IRRI.

 

Viện IRRI có trụ sở chính đặt tại Philippines và văn phòng tại 16 quốc gia với nhiệm vụ cung cấp cho các nhà khoa học về lúa gạo và sản xuất với các thông tin di truyền và vật liệu cần thiết để phát triển các công nghệ cải tiến giống lúa và nâng cao sản xuất lúa gạo. IRRI đã có quá trình hợp tác nhiều thập kỷ với Việt Nam. Trong số 226 giống lúa được trồng ở Việt Nam, 25% giống do IRRI chọn tạo, 52% giống do các nhà khoa học Việt Nam chọn tạo có sử dụng giống bố mẹ có nguồn gốc từ IRRI.