Thứ Sáu, 9 tháng 12, 2022

Di truyền tính chống chịu thiếu lân của cây lúa

 Di truyền tính chống chịu thiếu lân của cây lúa

Nguồn: Lu HongWang FeiYan WangRongbin LinZhiye WangMao Chuanzao. 2022. Molecular mechanisms and genetic improvement of low-phosphorus tolerance in rice. Plant Cell Environ.; 2022 Oct 8.;  doi: 10.1111/pce.14457.

Phosphorus (P) là nguyên tố đa lượng mà cây trồng có nhu cầu để tăng trưởng và phát dục. Orthophosphate (Pi), một dạng hình P được ưa thích của thực vật khi hấp thu lân, rất dễ dàng bị cố định trong đất, làm hàm lượng lân dễ tiêu rất thấp. Nguồn tài nguyền “phosphate rock” ngày càng hạn chế, phân bón có hiệu quả sử dụng lân thấp, và yêu cầu ngày càng cao của nông nghiệp xanh; tất cả trở nên quan trọng phải làm rõ những cơ chế phân tử liên quan đến phản ứng của cây đối với thiếu lân (P deficiency) và cải tiến hiệu quả sử dụng phosphate của cây trồng. Hơn 20 năm qua, tiến bộ to lớn của nội dung này đã và đang được hiểu nhiều hơn về những cơ chế điều tiết di truyền của phản ứng cây đói lân (P starvation). Ở đây, nhóm nghiên cứu viên đã tổng hợp lại một cách hệ thống các kết quả nghiên cứu gần đây về cơ chế của “Pi acquisition” (hấp thu P), vận chuyển P, và phân phối P từ vùng rễ cho đến chồi thân; sự phân phối lại Pi và sử dụng lại Pi trong chu kỳ tăng trưởng & phát dục của cây; những cơ chế phân tử của vi khuẩn cộng sinh trong cây lúa (Oryza sativa L.) khi thiếu lân. Người ta còn thảo luận nhiều chiến lược để làm thế nào tăng cường mức độ hiệu quả sử dụng P làm tăng năng suất lúa.

Xem https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/36208118/

MoErv29 làm tăng cường “effector” của nấm Magnaporthe oryzae

MoErv29 làm tăng cường “effector” của nấm Magnaporthe oryzae 

Nguồn: Bin QianXiaotong SuZiyuan YeXinyu LiuMuxing LiuDanyu ShenHan ChenHaifeng ZhangPing WangZhengguang Zhang. 2022. MoErv29 promotes apoplastic effector secretion contributing to virulence of the rice blast fungus Magnaporthe oryzae. New Phytol.; 2022 Feb; 233(3):1289-1302.  doi: 10.1111/nph.17851. 

 

 

Trong mối tương tác giữa ký chủ và ký sinh, nhiều protein của nấm ký sinh được tiết ra bởi kết quả hoạt hóa lộ trình UPR (unfolded protein response). Muốn theo dõi được một cách hữu hiệu các protein như vậy (secretory proteins), trong qua trình phát triển bệnh lý, người ta sử dụng COPII (cytoplasmic coat protein complex II) biểu hiện vai trò đa chức năng mà việc làm rỏ ràng vai trò ấy vẫn còn hết sức hạn chế. Người ta khám phá ra rằng COPII cargo receptor có thuật ngữ khoa học là MoErv29 đảm nhận chức năng như đích đến của MoHac1, một yếu tố phiên mã đã được tìm thấy trước đây của lộ trình UPR pathway. Nấm Magnaporthe oryzae, sự mất đoạn của MoERV29 ảnh hưởng nghiêm trọng đến tăng trưởng, phát sinh bào tử và sự xâm nhiễm có tính chất biotrophic của nấm đạo ôn vào cây lúa nhiễm bệnh. Người ta chứng minh được MoErv29 yêu cầu phải tiết ra những proteins thông qua sự nhận biết và sự kết gắn của những motif mang tính chất “amino-terminal tripeptide” theo sau peptide truyền tín hiệu. Thông qua kết quả phân tích tin sinh học, người ta dự đoán được một “cargo spectrum” của MoErv29, tìm thấy MoErv29 rất cần cho sự tiết ra nhiều protein như vậy, bao gồm “extracellular laccases apoplastic effectors. Chất tiết này xảy ra ở màng võng nội chất (endoplasmic reticulum-Golgi), theo một lộ trình tiết protein, rất quan trọng đối với sự nhận biết ra ký chủ và tính kháng bệnh đạo ôn. Kết quả nghiên cứu khẳng định MoErv29 khởi động sự tiết ra effector, khám phá này cung cấp một kết nối giữa COPII vesicle trafficking và lộ trình UPR.

Xem https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/34761375/

OsHXK3 mã hóa protein hexokinase có vai trò điều tiết tính trạng kích thước hạt lúa

 OsHXK3 mã hóa protein hexokinase có vai trò điều tiết tính trạng kích thước hạt lúa

Nguồn: Peng YunYibo LiBian WuYun ZhuKaiyue WangPingbo LiGuanjun GaoQinglu ZhangXianghua LiZefu Li & Yuqing He. 2022. OsHXK3 encodes a hexokinase-like protein that positively regulates grain size in rice. Theoretical and Applied Genetics October 2022; vol. 135: 3417–3431

Người ta ghi nhận và định tính gen SNG1, thông qua phương pháp “map-based cloning” và xác định chức năng của gen mã hóa protein OsHXK3, một hexokinase-like protein có vai trò quan trọng trong điều khiển kích thức hạt thóc.

Tính trạng kích thước hạt thóc la tính trạng nông học quan trọng xác định năng suất lúa và sự biểu hiện bên ngoài phẩm chất hạt gạo. Ở đây, người ta ghi nhận một khám phá ra đột biến short and narrow grain1 (sng1) làm giảm chiều dài, chiều rộng và khối lượng hạt. Người ta tiến hành phương pháp map-based cloning cho kết quả là: kiểu hình đột biến ấy được tạo ra bởi hình thức “loss of function” của gen OsHXK3 gen này mã hóa hexokinase-like (HKL) protein. OsHXK3 được kết gắn với ty thể bộ (mitochondria) và được phân bố trong giai đoạn protein phân rã thành amino acid (ubiquitously distributed) ở nhiều cơ quan khác nhau, ưu tiên cho những cơ quan còn non. Phân tích hoạt động “phosphoryl hóa glucose (Glc)” của bông lúa non và protoplasts; kết quả chỉ ra rằng OsHXK3 là một protein “non-catalytic hexokinase” (HXK). Sự biểu hiện mạnh mẽ của gen OsHXK3 không thể bù cho gen đột biến Arabidopsis glucose insensitive2-1 (gin2-1), như vậy OsHXK3 thiếu hoạt động truyền tín hiệu của Glc. Phân tích bằng kỹ thuật “scanning electron microscopy” cho thấy gen OsHXK3 ảnh hưởng đến tính trạng kích thước hạt thông qua tăng cường sự phát triển tế bào võ trấn của hóa lúa. Knockout chín gen OsHXK ngoại trừ gen OsHXK3 không làm thay đổi kích thước hạt lúa, như vậy chức năng của những gen OsHXKs biến thiên hết sức khác nhau trong cây lúa. OsHXK3 ảnh hưởng đến sinh tổng hợp gibberellin (GA) và hiện tượng sinh lý homeostasis. So sánh với cây lúa WT (wild type), gen OsGA3ox2 điều tiết có ý nghĩa theo kiểu “up” và gen OsGA2ox1 theo kiểu “down” ở bông lúa non có gen sng1, hàm lượng của Gas hoạt tính cao giảm đi đáng kể trong bông lúa non của cây lúa đột biến. Năng suất hạt trên mỗi cây lúa thuộc dòng lúa biểu hiện mạnh mẽ gen OsHXK3  (dòng OE-4 và dòng OE-35) tăng lên 10,91% và 7,62%, theo thứ tự, so với cây lúa wild type. Kết quả này minh chứng rằng thiếu men xúc tác HXK và chức năng nhạy cảm có vai trò quan trọng trong tính trạng kích thước hạt và có tiềm năng làm tăng năng suất lúa.

Xem https://link.springer.com/article/10.1007/s00122-022-04189-7

 

Phân tích transcriptome và proteome của nấm đạo ôn khi tương tác với cây lúa

 Phân tích transcriptome và proteome của nấm đạo ôn khi tương tác với cây lúa

Photo: ©FAO/Luc GenotNguồn: Jongbum JeonKi-Tae KimJaeyoung ChoiKyeongchae CheongJaeho KoGobong ChoiHyunjun LeeGir-Won LeeSook-Young ParkSeongbeom KimSun Tae KimCheol Woo MinSeogchan KangYong-Hwan Lee. 2022. Alternative splicing diversifies the transcriptome and proteome of the rice blast fungus during host infection. RNA Biol.; 2022; 19(1):373-385.  

doi: 10.1080/15476286.2022.2043040.

 

Sự kiện AS (alternative splicing) góp phần làm đa dạng phản ứng của tế bào và điều tiết phản ứng này đối với điều kiện môi trường bên ngoài, đó là tín hiệu phát triển của phân tử mRNA đa dạng và các isoforms của protein từ một gen đơn. Những nghiên cứu trước đây về AS trong các loài nấm gây bệnh (pathogenic fungi) đã tập trung vào “phổ biểu hiện” của AS isoforms dưới một số các điều kiện rất hạn chế. Người ta tiến hành phân tích phổ biểu hiện AS (AS profiles) của nấm gây bệnh đạo ôn cây lúa Magnaporthe oryzae, một đe dọa có tính chất toàn cầu đối với sản xuất lúa, bằng cách sử dụng cơ sở dữ liệu transcriptome chất lượng cao, đặc trưng cho sự tăng trưởng của khuẩn ty (mycelia) và các giai đoạn xâm nhiễm của nấm vào cây chủ. Có tất cả 4.270 AS isoforms được dẫn xuất từ 2.413 gen được phân lập, bao gồm 499 gen được điều tiết bởi infection-specific AS. Sự kiện AS xuất hiện nhằm gia tăng thời gian xâm nhiễm, với 32,7% AS isoforms được sản sinh trong khi xâm nhiễm vào cây chủ nhưng không thấy trong sợi khuẩn ty (mycelia). Phân tích những isoforms được quan sát ở từng giai đoạn nấm xâm nhiễm cho thấy rằng: 636 AS isoforms rất phong phú về số lượng so với phân tử “annotated mRNAs” tương ứng, đặc biệt là sau khi sau lần xâm nhiễm đầu tiên của hyphae vào tế bào cây lúa. Rất nhiều dominant isoforms như vậy được dự đoán mã hóa di truyền các protein có tính chất điều tiết (regulatory proteins) ví dụ như những yếu tố phiên mã (TFs) và men phospho-transferases. Người ta còn phân lập được những gen như vậy mã hóa các protein nhất định (distinct proteins) thông qua sự kiện AS và khẳng định rằng sự diễn dịch của một vài isoforms được ghi nhận thông qua phân tích proteomic, điều ấy chỉ ra rằng sự kiện AS có tiềm năng bởi tính chất chức năng mới hình thành (neo-functionalization) của một vài gen nào có có trong lúc nấm xâm nhiễm vào cây lúa. Phổ thể hiện được biết về thành phầncủa sự kiện “genome-wide AS” trong nhiều giai đoạn khác nhau xét trên tương tác giữa cây lúa và nấm M. oryzae hình thành nên luận điểm là: vai trò cũng như sự điều tiết của AS trong khi nấm xâm nhiễm vào cây lúa là nghiên cứu khả thi.

 

Xem https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/35311472/

 

TL1 mã hóa protein “C2H2 zinc finger” cải tiến phẩm chất cơm trong Oryza sativa L

 TL1 mã hóa protein “C2H2 zinc finger” cải tiến phẩm chất cơm trong Oryza sativa L

Nguồn: Guochao ZhaoShuifeng XieShipeng ZongTong WangChanjuan MaoJianxin Shi & Jianyue Li. 2022. Mutation of TL1, encoding a novel C2H2 zinc finger protein, improves grains eating and cooking quality in rice Theoretical and Applied Genetics October 2022; vol. 135: 3531–3543

Thực hiện dòng hóa và định tính một protein mới có tên là C2H2 zinc finger protein nó ảnh hưởng đến  phẩm chất cơm ngon thông qua hàm lượng amylose (AC) và sự phân bố chiều dài chuỗi amylopectin trong hạt gạo.

Một trong những mục tiêu quan trọng của cải tiến giống lúa là làm tăng năng suất, đồng thời  làm tăng phẩm chất gạo ECQ (eating and cooking quality). Điều khiển hàm lượng amylose (AC) và sự phân bố chiều dài chuỗi amylopectin ACLD (amylopectin chain-length distribution) của hạt bgạo là chiến lược chủ yếu để cải tiến ECQ của giống lúa. Những nghiên cứu trước đây cho thấy: một vài gen có liên quan đến tinh bột SSRGs (starch synthesis-related genes) cần phải có AC và ACLD bình thường, tuy nhiên, hệ thống điều tiết như vậy không rõ ràng. Ở đây, người ta ghi nhận dòng hóa và định tính một protein mới C2H2 zinc finger protein TL1 (Translucent endosperm 1) nó có thể điều tiết tích cực tổng hợp amylose trong hạt gạo. Mất chức năng của TL1 sẽ làm giảm  AAC (apparent amylose content), tinh bột tổng số, độ bề thể gel (gel consistency), và độ trở hồ (gelatinisation temperature), trong khi đó, làm tăng độ dính (viscosity), lipid tổng số, và tỷ lệ chuỗi amylopectin A với mức độ polymer hóa (DP) là 6–12; đối với chuỗi B1 là DP 13–24, làm cho hạt gạo tăng ECQ. Khi ECQ tăng lên, tất cả kết hợp với những biểu hiện thay đổi altered expression của nhiều hạt gạo với SSRGs thử nghiệm của hạt gạo có kiểu hình đột biến tl1. Bên cạnh đó, người ta thực hiện knockout gen TL1 của giống lú cao sản JiaHua NO.1 đã làm giảm AAC mà không có bất cứ ảnh hưởng phụ nào (side effects) đến những tính trạng nông học chủ lực. Kết quả này mở rộng tầm hiểu biết của chúng ta  về các hệ thống điều tiết di truyền (regulating networks) của biến dưỡng tinh bột hạt gạo và cung cấp kiến thức cơ bản làm thế nào phẩm chất ECQ của lúa có thể được cải tiến thông qua những tiếp cận mới về di truyền.

Xem https://link.springer.com/article/10.1007/s00122-022-04198-6

 

Di truyền  tính kháng bệnh đạo ôn lúa bởi gen Pita-Fuhui2663

 Di truyền  tính kháng bệnh đạo ôn lúa bởi gen Pita-Fuhui2663

Nguồn: Niqing HeFenghuang HuangMingxiang YuYebao ZhuQingshun Q LiDewei Yang. 2022. Analysis of a rice blast resistance gene Pita-Fuhui2663 and development of selection marker. Sci Rep.; 2022 Sep 1; 12(1):14917. doi: 10.1038/s41598-022-19004-y.

 

Bệnh đạo ôn lúa do nấm Magnaporthe oryzae gây ra. Ở đây, người ta đã xác định được một gen kháng từ giống lúa trồng Fuhui 2663 nó kháng với nấm đạo ôn có mẫu phân lập ký hiệu KJ201. Thông qua phân tích quần thể và phương pháp giải trình tự DNA, gen ứng cử viên được theo dõi định vị trên nhiễm sắc thể 12. Phương pháp “map-based cloning” cho thấy gen khángđược lập bản đổ ở quãng có độ lớn phân tử 80-kb chứa locus kháng của gen Pita. Ước đoán gen ứng cử viên và giải trình tự cDNA cho thấy rằng: gen đích trong giống lúa Fuhui 2663 allelic với gen Pita, nên người ta đặt ký hiện là Pita-Fuhui2663. Phân tích sâu cho thấy protein Fuhui 2663 có một thay đổi về amino acid: đó là gốc Ala (A) 918 trong Pita-Fuhui2663 được thay thế bởi Ser (S) trong Pita-S, làm cho sự thay đổi có ý nghĩa vê cấu trúc 3D của protein Pita-S. Thực hiện hệ thống CRISPR/Cas9 để  knockout chỉnh sửa gen, kết quả xác nhận rằng Pita-Fuhui2663 có chức năng điều khiển kiểu hình kháng của giống lúa Fuhui 2663. Quan trọng hơn là, Pita-Fuhui2663 không ảnh hưởng đến bất kỳ tính trạng nông học quan trọng nào khi so sánh với giống lúa mang gen Pita nhờ kết quả thí nghiệm knockout này, điều đó cho thấy tiềm năng ứng dụng gen Pita-Fuhui2663 trong chương trình cải tiến giống. Hơn nữa, marker chỉ thị Pita-Fuhui2663-dCAPS biểu thị rất tốt tính chuyên biệt và hiệu quả cao để phục vụ chọn giống nhờ chỉ thị phân tử, tìm dòng con lai kháng bệnh đạo ôn.

Xem https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/36050368/

 

Hình: Bản đồ di truyền và bản đồ vật lý của gen Pita-Fuhui2663.

 

Gen Pi-d2 điều khiển tính kháng bệnh đạo ôn lúa

 Gen Pi-d2 diều khiển tính kháng bệnh đạo ôn lúa

Pengfei XieJia LiuRuisen LuYanmei ZhangXiaoqin Sun. 2022. Molecular evolution of the Pi-d2 gene conferring resistance to rice blast in Oryza. Front Genet.; 2022 Sep 6; 13:991900. doi: 10.3389/fgene.2022.991900. 

Khai thác gen kháng bệnh (R) của cây trồng trong các chương trình cải tiến giống là một chiến lược nghiên cứu hiệu quả để quản lý các pathogens. Sự hiểu biết về biến thiên di truyền gen kháng R là cơ sở của luận điểm này. Bệnh đạo ôn lúa bởi nấm Magnaporthe oryzae, là bệnh hại nặng nề đối với sản xuất lúa. Gen kháng bệnh đạo ôn lúa Pi-d2 đại diện cho một lớp mới (new class) của gen kháng R bởi domain mới của nó có tính chất bên ngoài tế bào (novel extracellular domain). Người ta nghiên cứu tính đa hình trong nhân, topology có tính di truyền huyết thống và các thành phần định hình tiến hóa của gen Pi-d2 trong 67 mẫu giống lúa trồng và lúa hoang có quan hệ gần. Gen Pi-d2 có nguồn gốc rất sớm trong Poales và duy trì như một gen đơn mà không phát triển (expansion). Phát hiện cho thấy rằng những alen nhiễm Pi-d2 có thể được dẫn xuất từ sự thay thế của một nucleotide nào đó trong những alen kháng sau khi phân nhánh  subspecies của chi Oryza. Tính chất gen đa tính trạng mang chức năng rõ (functional pleiotropy) và các ảnh hưởng liên kết gen cho thấy có sự tiến hóa và sự sở hữu của những alen nhiễm bệnh trong quần thể cây lúa. Một bộ cặp mồi DNA được người ta phát triển từ các vị trí đa hình để tìm kiếm được đa hình nucleotide có chức năng (functional nucleotide polymorphism) quy định tính kháng bệnh của gen Pi-d2 trên cơ sở kết quả chạy PCR kinh điển. Mức độ đa dạng nucleotide  biến thiên giữa những domains khác nhau của gen Pi-d2, mà gen này có thể liên quan đến các chức năng hết sức đa dạng của từng domain của phản ứng cây lúa với bệnh đạo ôn. Chọn lọc định hướng (directional hoặc purifying) biểu thị bản chất trội (dominant) trong sự kiện tiến hóa ở mức độ phân tử của gen Pi-d2 được ghi nhận và biểu thị từng phần biến thiên di truyền mang chất bảo thủ.

Xem https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/36147495/